CẢM NGHĨ VỀ NGÀY 30.04 CỦA LM. PHÊRÔ PHAN VĂN LỢI


Phát biểu của Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi trên đài OMV4TV ngày 30.04.2015

1- Cha nghĩ gì về ngày 30 tháng 4?

Về ngày 30 tháng 4 năm nay, có rất nhiều điều để nói. Tôi chỉ xin bày tỏ vài cảm nghĩ.

a) Trước hết là ba nhận định: 

Nhận định thứ nhất, đây là một cuộc xâm lăng do đảng CSVN, theo lệnh CS Quốc tế, cụ thể là Nga và Tàu cộng, tiến hành đối với VNCH, một quốc gia chính danh, được quốc tế công nhận, nhằm mở rộng đế quốc đỏ xuống Đông Nam Á, chứ chẳng hề là một cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cuộc xâm lăng này vừa vi phạm công pháp hoàn vũ, vừa vi phạm các hiệp định quốc tế về VN năm 1954 và 1973.

Nhận định thứ hai, đây là sự chôn vùi một chính thể dù còn bất toàn, nhưng vẫn là một chính thể dân chủ, có tam quyền phân lập, biết tôn trọng mọi nhân quyền và dân quyền, biết lo cho dân chúng được áo ấm cơm no. VNCH lúc ấy chỉ có thua Nhật Bản, còn thì ngang bằng hoặc hơn các nước Đông Nam Á. 

Nhận định thứ ba, đây là bước khởi đầu cho việc áp đặt lên toàn thể Dân tộc và Đất nước một chế độ độc tài không những chuyên chế mà còn toàn trị: toàn trị chính trị, toàn trị kinh tế, toàn trị văn hóa, toàn trị xã hội, tiếp tục gây bao tang thương đổ vỡ cho người dân Việt Nam mãi tới hôm nay.

b) Tiếp đến là ba nỗi đau. 

Nỗi đau thứ nhất là CS Hà Nội đã tàn phá cả miền Bắc lẫn miền Nam qua cuộc chiến tranh xâm lược, đẩy hàng triệu người dân hai miền vào chỗ chết để đảng CS chiến thắng, cướp đoạt tất cả giang sơn vào tay mình, khiến cho cả triệu nhân dân miền Nam phải bỏ nước ra đi và hàng chục triệu dân miền Bắc thấy mình bị lừa bịp trắng trợn. 

Nỗi đau thứ hai là trong 40 năm qua, đảng CS lần lượt cướp hết mọi tài sản tinh thần và vật chất của toàn dân. Tài sản tinh thần là các quyền tự do của con người và các quyền tư do của công dân. Mọi người VN đều biến thành nô lệ của đảng. Tài sản vật chất là mọi tài nguyên của đất nước, từ trên đất xuống dưới biển. Toàn thể đất đai đều thuộc quyền sở hữu của đảng. Mọi người VN đều biến thành kẻ ở thuê và làm thuê cho đảng. 

Nỗi đau thứ ba là vì chỉ cai trị đất nước bằng gian trá, bạo lực và duy ý chí, quản lý xã hội cách ích kỷ, tham lam và ngu dốt, đảng CS nay thất bại trên mọi mặt. Đang khi đó lại bị Tàu cộng khống chế, xâm nhập, trói buộc về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoài ra còn bị nhân dân vạch mặt, căm thù và muốn lật đổ, nên đảng CSVN sẵn sàng bán đứng đất nước cho Tàu cộng, chấp nhận để VN thành một tỉnh nhỏ của Tàu qua kế hoạch đã dự trù từ Hội nghị Thành Đô 1990.

c) Tiếp nữa là ba quyết tâm: 

Thiển nghĩ quyết tâm thứ nhất là cộng đồng hải ngoại cần đoàn kết nên một để chống Cộng, bỏ qua những tranh cãi nhỏ nhen và tỵ hiềm nhỏ nhặt, biết hiệp nhất trong đa diện, xem cái chúng ta quan trọng hơn cái tôi, tôn trọng sự khác biệt trong phương cách đấu tranh miễn là có sự đồng nhất trong mục tiêu tranh đấu, trân quý những nỗ lực và thành tựu của nhau dù nhỏ đến đâu chăng nữa. 

Quyết tâm thứ hai là cộng đồng quốc nội cũng cần đoàn kết nên một để chống Cộng: đoàn kết bên trong các giới nông dân, công nhân, trí thức, tín đồ, các nhóm đối kháng dân chủ và các tổ chức xã hội dân sự. Các giới này cũng cần đoàn kết với nhau: thành phần quần chúng đông đảo thì thành lực lượng, thành phần ít ỏi nhưng có tri thức và tổ chức thì thành người hướng dẫn, hai bên giúp nhau thực thi quyền lực của nhân dân. 

Quyết tâm thứ ba là trong ngoài liên kết với nhau thành một, làm thành một Liên minh Dân tộc rộng rãi, để đương đầu với hai kẻ thù chung là đảng Việt cộng và đảng Tàu cộng vốn đang dựa lưng vào nhau để bảo vệ nhau. Đừng bao giờ nghe những giọng điệu hòa hợp hòa giải của Hà Nội. Hãy nhìn những sai lầm, tội ác và thất bại mà cả Việt cộng lẫn Tàu cộng đã gây ra cho đất nước 40 năm qua.

2. Cha có nhận xét gì về sự kiện đang xảy ra tại Dòng Chúa Cứu Thế Saigon?

Thứ nhất: Những gì đang xảy ra tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn sau ngày có Tân Giám tỉnh và ban lãnh đạo mới làm cho mọi người ngỡ ngàng và lo lắng, buồn bã và thất vọng. Phát súng nổ giữa trời quang là việc hủy bỏ cuộc quy tụ để khám bệnh tặng quà lần thứ 7 cho Thương binh VNCH hôm 17 tháng 4, rồi việc hủy bỏ Thánh lễ cầu cho Công lý Hòa bình vào cuối tháng mà đáng lẽ phải được cử hành tại nhà thờ của Dòng hôm Chúa nhật 26.04.

Chúng ta biết rằng từ hơn hai năm nay, dưới quyền lãnh đạo của Linh mục cựu Giám tỉnh Phạm Trung Thành với dàn cộng tác viên ăn ý như Lm Hồ Đắc Tâm, bề trên cộng đoàn SG, linh mục Lê Ngọc Thanh, trưởng ban truyền thông, linh mục Đinh Hữu Thoại, trưởng phòng Công lý Hòa bình và một số cộng tác viên giáo dân, DCCT Sài Gòn thể hiện linh đạo của dòng là phục vụ người nghèo, đặc biệt người nghèo về nhân phẩm nhân quyền, tức là những người bị áp bức trong xã hội cộng sản hôm nay. Dòng đã có ít nhất 7 hoạt động. Trước hết là lâp trang mạng Truyền thông Chúa Cứu Thế luôn đăng tải những bài viết về phong trào đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. 

Thứ hai: là tổ chức Thánh lễ cầu cho công lý hòa bình vào cuối tháng, với ý chỉ cầu nguyện cho một hoặc hai trường hợp vi phạm nhân quyền và với những bài giảng sấm sét mà ai nghe cũng hả dạ. 

Thứ ba: là cứu trợ các thương binh VNCH, hạng bị đọa đày 40 năm nay. Cứu trợ họ bằng cách khám bệnh, cho thuốc, tặng xe lăn, giúp đỡ hoàn cảnh túng thiếu. Đã tổ chức 6 lần rồi và rất có tiếng vang từ quốc nội ra tới hải ngoại. 

Thứ tư: là mở phòng Công lý Hòa bình, nơi tiếp nhận các dân oan mất đất mất nhà đến kêu cứu, nộp hồ sơ để nhờ các cha giúp khiếu kiện. 

Thứ năm: là hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự độc lập còn non trẻ tại VN mà hoạt động chủ yếu lúc này là tranh đấu cho nhân quyền, hỗ trợ bằng cách cho mượn nhà mục vụ làm nơi tụ họp, gặp gỡ. 

Thứ sáu: là thực hiện chương trình Cà-phê tối, gồm các video clip phỏng vấn những nhân vật đấu tranh cho dân chủ, dân oan đấu tranh vì nhân quyền, tín đồ đấu tranh cho tự do tôn giáo. 

Thứ bảy: là làm tấm bảng thông tin cực lớn để cạnh nhà thờ DCCT, mang tên “Đến Mà Xem”. Bảng thông tin này hết sức thu hút vì có những tin tức, hình ảnh, bình luận gây nhức nhối cho chế độ mà gây thích thú cho người dân.

Nay với Tân Giám tỉnh và ban lãnh đạo mới, 7 hoạt động trên xem ra từ từ bị xẹp xuống. Ngoài 2 sự kiện chấn động nêu trên, nay người ta thấy kể từ hôm 17-04, khi ban truyền thông mới bắt đầu làm việc, trang Truyền thông Chúa Cứu Thế chủ yếu đăng toàn chuyện đạo đức, chỉ duy nhất một mẩu tin về một nữ tu người Áo chăm sóc kẻ nghèo bị giết bên trời Nam Phi xa xôi vạn dặm. 

Người ta không biết rồi đây, đồng bào thành tâm ở hải ngoại có tiếp tục gởi tiền về giúp dân oan, thương binh qua DCCT nữa chăng, và không biết rồi đây còn có lễ rửa tội cho những người cộng sản phản tỉnh hoặc cho những nhà đấu tranh lương dân xin trở lại làm con Chúa chỉ vì thấy DCCT thực sự là nơi công bố sự thực, thể hiện tình thương và bênh vực công lý nữa chăng?

3. Theo cha, vai trò ngôn sứ đích thực của một Kitô hữu, tu sĩ và linh mục là gì trong môi trường trần thế? 

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng ban hành cuối năm 2013, có thúc đẩy mọi Ki-tô hữu hãy“bước ra khỏi sự tiện nghi của mình và can đảm đi đến những vùng ngoại vi cần đến ánh sáng Tin mừng” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng số 20), hãy hiện diện bằng vô vàn cách thế trong các “vùng ngoại vi” ấy, qua việc chiến đấu vì công lý, hoạt động vì hòa bình và phẩm giá cho mỗi con người.

Lý do là vì, như Đức Thánh Cha nói ở số 183 của Tông huấn:“Chẳng ai có thể đòi hỏi chúng ta phải đẩy tôn giáo vào nội tâm sâu kín của con người, không gây ảnh hưởng gì lên đời sống xã hội và quốc gia, không chú tâm đến sự lành mạnh của các định chế thuộc xã hội dân sự, không bày tỏ ý kiến về những biến cố liên quan đến các công dân… Dẫu “trật tự chính đáng của xã hội và quốc gia là một trách nhiệm thiết yếu của chính trị”, Giáo hội vẫn “không thể và không được đứng ngoài cuộc đấu tranh cho công lý”. Mọi Ki-tô hữu cũng như các mục tử đều được kêu gọi quan tâm đến việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn".

Điều đó có nghĩa là: mọi Ki-tô hữu phải dấn thân vào môi trường trần thế để làm ngôn sứ, chứng nhân và tác nhân, nhất là trong cái xã hội VN đang đảo điên, ngập tràn dối trá và bạo hành, dửng dưng và ích kỷ, bất công và đàn áp, tham nhũng và bóc lột này. 

Giáo dân thì dấn thân bằng cách hoạt động chính trị, nhảy vào chính trường, thành lập hoặc tham gia chính đảng, dĩ nhiên chính đảng phi cộng sản, vì chính Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói trong số 205 của Tông huấn: “Chính trị, dù thường bị chê bai, vẫn là một ơn gọi cao cả và một trong những hình thức cao quí nhất của bác ái, khi nó tìm kiếm lợi ích chung”. 

Phần những người tu hành, tức các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ thì không làm chính trị đảng phái hay nghị trường, nắm quyền lực trong bộ máy quốc gia như giáo dân, nhưng phải làm chính trị công dân, có thái độ chính trị đúng đắn. Nghĩa là lên tiếng công bố sự thật, bảo vệ lẽ phải, bênh vực những người bị áp bức, vạch trần những sai trái và tố cáo những tội ác của nhà cầm quyền, làm cố vấn cho những giáo dân nhảy vào lãnh vực chính trị.

Lm Phêrô Phan Văn Lợi
30.04.2015
Read more…

ÂU CHÂU: HƠN 7 NGÀN GIÁO DÂN HÀNH HƯƠNG ĐỨC MẸ BANNEUX NGÀY HIỀN MẪU LẦN THỨ 6


Banneux linh địa hồng ân
Ơn lành suối mát phúc phần cho ta
Mừng ngày "Hiền Mẫu" tháng hoa
Về nương bóng Mẹ chan hòa an vui.

Vâng! hôm nay là ngày Đại Hội Âu Châu lần thứ sáu vào đúng ngày Hiền Mẫu chúng con từ khắp muôn phương về thăm kính Mẹ. Khoảng hơn bảy ngàn giáo dân Việt Nam đến từ nhiều nước như Đức, Hoà Lan, Bỉ, Pháp, Lục Xâm Bảo, Đan Mạch, Ý Đại Lợi, Anh Quốc, Mỹ và có cả những người đến từ Việt Nam nữa.


Ánh nắng của tháng hoa kính Đức Mẹ, áng nắng mùa xuân đẹp đẽ chan hòa lung linh chiếu rọi xuống đàn con đông đảo ngay từ buổi sáng sớm hôm nay nơi linh địa Banneux. Hàng hàng, lớp lớp tuổn đổ về nơi "suối nguồn hồng ân" trong ngày "Hiền Mẫu" hôm nay để nhúng đôi bàn tay bé nhỏ vào trong dòng suối mát dưới chân tượng Mẹ để sám hối, ăn năn xin Mẹ giúp chúng con tẩy rửa đi tất cả những hạt bụi của cuộc đời sau bao năm đã phủ đầy và bám chắc vào tâm hồn làm cho cuộc đời con nặng nề qúa! làm mờ hẳn đi cả tầm nhìn tâm linh của mình. Thì đây, dòng suối tình yêu thương Mẹ ban cho chúng con, và Mẹ sẽ giúp chúng con tẩy rửa đi những bụi trần đó như lời Mẹ hiện ra chính tại nơi đây 8 lần năm 1933 để nhắn nhủ nhân loại qua cô Mariette Becô. Bởi vì chúng con là những người nghèo, nghèo tâm linh, nghèo tình yêu thương, nghèo tình bác ái, nghèo tình sẻ chia, nghèo cả thể xác lẫn tinh thần v.v... 

11giờ 30 đoàn kiệu bắt đầu với thánh Giá nên cao đi đầu tiếp theo là rất nhiều những hội đoàn, với đủ thứ cờ hiệu của những đoàn thể từ các nước. Kiệu Đức Mẹ Banneux với ngàn hoa trang trọng xung quanh, các em thiên thần thiếu nhi nhí tung hoa theo sau kiệu. Đức Mẹ Banneux quay mặt lại phía đàng sau để nhìn đoàn con cái Mẹ đi theo sau như thầm nói rằng: Mẹ luôn quan tâm thương yêu và giúp đỡ phù trợ các con của Mẹ trên từng bước chân con đi. Mẹ không bao giờ chấm dứt phù trợ chúng con khi chúng con cần đến Mẹ, hay cả khi chúng con có quay lưng lại với Mẹ thì Mẹ vẫn luôn quan tâm tới chúng con. 
Ví dù trên đường trần gian chúng con có giỏi giang khôn ngoan cách mấy đi nữa thì trước mặt Thiên Chúa, các con vẫn là những đứa con dại và vụng về mà thôi. "Mẹ thương các con". Sau kiệu Đức mẹ còn có kiệu của "Các Thánh Tử Đạo Việt Nam" 117 vị Thánh tử vì đạo nước Việt Nam đây đại diện tiêu biểu cho hàng mấy trăm ngàn vị tử đạo tiền nhân của chúng ta đã anh dũng hy sinh thân xác mình, để tuyên xưng đức tin vào đạo Thiên Chúa là đạo thật. Chịu tra tấn qua đủ thứ hình phạt như: bị xử trảm (chặt đầu) lột da, xiết cổ cho đến chết, đốt bằng lửa, đánh bằng cây cho đến chết, bỏ đói khát trong tù, xử bá đao, v.v... Những bài ca tụng Đức Mẹ được cất lên dâng Mẹ cùng với những tràng kinh Mân Côi, với những đóa hoa tươi xinh của những em bé thiên thần tung lên kính Mẹ, thì cũng có những bài ca "Ngàn Trùng" Khải hoàn ca, Tiếng nhạc oai hùng v.v...ngợi khen các đấng Thánh đã anh hùng Tử vì đạo ngay để làm chức tá về Thiên Chúa, và hôm nay đang hưởng phúc vinh trên nước Thiên Đàng. Những lời hát câu kinh vang vang, dậy dậy cả khắp cùng linh địa Banneux ngày hôm nay. 

Sau một giờ rước kiệu tiến vào Đại Thánh Đường chính của Linh Địa Banneux với 5 ngàn ghế ngồi đã không còn chỗ trống tất cả những hàng ghế chung quanh cũng đều được tận dụng cả nhưng vẫn có rất nhiều người phải đứng suốt thánh lễ và cả bên ngoài. 
Trước thánh lễ các em bé trong đội dâng hoa cộng đoàn Mönchengladbach đã vũ tiến hoa dâng Mẹ với những bó hoa tươi thắm đủ các sắc màu, có những em mới 5-6 tuổi vô cùng đáng yêu, chắc hẳn Đức Mẹ vui lắm và nhất là trong ngày Hiền Mẫu này những người làm mẹ cũng rất vui với sự dìu dắt những đứa con của mình được như thế. 
Tiếp theo là các em trong đội trắc của Vương Quốc Bỉ trình diễn thật hay với những nhịp điệu dồn dập mạnh mẽ có khi hùng dũng làm cho tôi liên tưởng đến gương các thánh anh hùng tử vì đạo nước Việt Nam của chúng ta, các ngài không lùi bước trước tất cả những sự đau khổ nguy nan thì mới tiến tới khải hoàn vinh quang cùng với Đức Kitô được. 

Lm. giám đốc đền thánh đã rất hân hạnh được chào mừng phái đoàn Việt Nam hôm nay hành hương về đây, ngài nói: Hôm nay đúng là một ngày đặc biệt nơi linh địa này dành cho Á Châu. Hôm nay có sự hiện diện của nhiều cộng đoàn của các nước khác nữa. Đó là Nam Hàn, Phi Luật Tân, và nhóm người Trung Hoa nhưng đặc biệt đông nhất là Việt Nam. Ngài rất vui khi 6 năm liên tiếp người Công Giáo Việt Nam đã tổ chức hành hương đúng vào Chúa nhật thứ 2 tháng năm ngày mà cả thế giới cùng mừng "Ngày Hiền Mẫu" Ngài rất hân hoan đón tiếp chúng ta và mong mỗi năm sẽ tiếp tục như thế.

Lm. Phanxicô Nguyễn Xuyên Vương Quốc Bỉ, đại điện Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long Đức Quốc và Lm. Giuse Trần Đức Hưng Hòa Lan, Ban Tổ Chức cám ơn đến cha Giám đốc đền thánh và chào mừng đại hội. Anh Hưng thay mặt BTC. giới thiệu sơ các nước, các nhóm, các hội đoàn, qúy Lm, Tu sỹ và tất cả mọi người. 

Thánh lễ đồng tế trên cung thánh với 17 Lm. Lm Đaminh Nguyễn Ngọc Long chủ tế, LM. Giuse Nguyễn Đức Hưng công bố Tin Mừng và Lm. Phanxicô Nguyễn Xuyên chia sẻ Lời Chúa. 
Sau hai bài đọc và bài PHÚC ÂM: Ga 15, 9-17
"Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình"

Kính thưa Qúy Lm. tu sỹ cùng tất cả qúy ông bà anh chị em. Hôm nay hiện diện trên cung thánh này tôi thấy có rất nhiều những Lm. chuyên về giảng thuyết như cha Nguyễn Thiết Thắng dòng Biển Đức đến từ Mỹ một vài Lm. nữa (mà người viết không nhớ tên)
nhưng hôm nay vì trách nhiệm nên tôi cố gắng can đảm để chia sẻ đôi chút, và xin quý cha và qúy tu sỹ và qúy vị cũng ráng can đảm nghe.

Thứ nhất là cả ba bài đọc hôm nay đều hướng về tình thương của Đức Giêsu Kitô dẫn đến Thiên Chúa.
Tôi nhớ thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến đây hành hương ngày 21.05.1985. Ngài đã đi theo con đường xưa kia Đức Mẹ đã dẫn Mariette đi, nơi có ngôi sao dấu tích ấy mà buổi sáng nay tôi đã giải thích cho anh Trầm Hương Thơ và một số thầy, chính là nơi Đức Mẹ đã dừng lại để đỡ nâng cô Mariette Beco dậy khi cô té ngã để đưa cô đến, và Mẹ đã chỉ cô đây là dòng "suối nguồn hồng ân". Đức Thánh Giáo Hoàng cũng đã nhúng hai bàn tay vào dòng suối và ngài nói: "nơi đây là đất và nhà của tình thương". Vâng! 30 năm từ ngày ngài hành hương đến đây và nói như thế hàng năm cứ đông hơn lên. Banneux là nơi Mẹ hứa dành cho chúng con, Mẹ xin các con hãy đến lãnh nhận.

"Banneux dòng suối ơn lành
Khi xưa Mẹ hứa Mẹ dành cho con
Giang tay Mẹ vẫn mỏi mòn 
Chờ con tìm đến suối nguồn Yêu Thương" 
Những lời nguyện giáo dân được dâng lên Thiên Chúa:

- Xin cho ĐGH. được mạnh khỏe hai phần hồn xác để dẫn đưa Hội Thánh Chúa thăng tiến trong an hòa , và cầu xin cho hàng giáo phẩm các Giám Mục, Linh mục tu sỹ biết hy sinh cho đoàn chiên của mình sống xứng đáng là người Mục Tử bước theo gương sáng của Đức Kitô.

- Xin cho tất cả những người Việt Nam sống tha hương luôn biết sống xứng đáng là con cái Chúa và biết hướng lòng về với Quê Hương và giáo hội đang bị kềm kẹp nơi quê nhà.

- Xin cho người Việt Nam biết đoàn kết yêu thương để giữ gìn đất tổ chống ngoại xâm, giữ gìn được độc lập, cho những nhà cầm quyền mau quay trở về với dân tộc, biết đặt quyền lợi Quốc Gia trên quyền lợi cá nhân.

Xin cho các bạn trẻ, các gia đình, biết giữ gìn nét đẹp văn hóa kính trọng mẹ cha như lời Chúa dạy trong thời đại khó khăn này, đặc biệt hôm nay ngày Hiền Mẫu các người mẹ luôn là gương sáng cho những người con cái của mình để san sẻ tình yêu thương hạnh phúc.
- Xin cho các nạn nhân của chiến tranh, thiên tai, động đất được an lành, các nước đang được bình yên biết mở rộng bàn tay chia sẻ trong tình bác ái và thương yêu đồng loại của mình.

- Xin cho các linh hồn tiền nhân được vào hưởng Nhan Thánh Chúa.

Mọi người hôm nay cũng đã mở rộng bàn tay đóng góp vào tiền quyên trong thánh lễ như lời mời gọi của BTC. một nữa số tiền trên sẽ dành cho cộng việc tổ chức và một nửa gửi lại cho trung tâm đền thánh.
Ca đoàn tổng hợp với cả trăm ca viên hùng hậu và điêu luyện đã dâng lời ca tiếng hát lên Thiên Chúa để nâng tâm hồn mọi người dễ hướng thượng hơn. Tôi cũng rất khen và hãnh diện với ca đoàn trẻ của các bạn hôm nay, mỗi năm một vẻ, rất tuyệt vời! cám ơn các bạn và ca đoàn tổng hợp. Thánh lễ chấm dứt lúc 14giờ30. 

Sau một giờ giải lao ăn uống vào lúc 15giơ 30 mọi người tập trung đi viếng 15 chặng đường Thánh Giá để suy niệm về đoạn đường khổ nạn của Đức Giêsu Kitô. Những lời suy gẫm, những lời nguyện, những lời kinh, những bài hát, vang lên suốt con đường khổ nạn của Ngài.
Sau đó liền trở lại đại thánh đường tham dự giờ chầu Thánh Thể. Vì thời gian có hạn, nên giờ chầu năm nay cũng rút ngắn lại hơn. Sau phép lành Thánh Thể mọi người xếp hàng tiến lên hôn xương các Thánh Tử Vì Đạo Nước Việt Nam. Đây là nghi thức để tỏ lòng cung kính đến các thánh anh hùng tiền nhân của chúng ta đã chấp nhận cái chết để giữ gìn đạo ngay theo đường lối của Thiên Chúa, để truyền đạt tấm gương cho chúng ta. Chúng ta hôm nay hiện diện nơi đây đều là con cháu các ngài và luôn hãnh diện vì gương anh hùng của các ngài.
Sau đó mỗi tham dự viên tiến tới nơi kiệu hoa chào từ giã Đức Mẹ và nhận một đóa hoa hồng từ nơi Mẹ đem về nhà trong ngày Hiền Mẫu. Một ngày rất đẹp và ý nghĩa nơi linh địa Banneux này. Một ngày nắng ấm chan hòa ánh xuân từ trong ra ngoài. Một ngày được đích thực sống vui tươi trong vòng tay yêu thương của Mẹ.
  Một ngày mà tôi xin nói nên lời cám ơn chân thành đến Lm Đaminh Nguyễn Ngọc Long, Lm Giuse Nguyễn Đức Hưng, Lm Phanxicô Nguyễn Xuyên cùng toàn thể BTC và các đoàn thể, ban ngành, đội giúp lễ, đội dâng hoa, đội trắc, ca đoàn v.v... 

Lời kết:

SUỐI MẠCH TÌNH YÊU

Banneux rặng núi ngút trên cao
Suối mạch Tình Yêu Mẹ vẫn trào
Vạn kẻ nghèo hèn về khấn nguyện
Muôn người bệnh tật viếng xôn xao
Thông kia vẫn đượm mầu xanh ngát
Hồng nọ hương thơm sắc ngạt ngào
Thánh Mẫu thông ơn Thiên Chúa đợi
Tình Yêu cứu chuộc vẫn ban trao...

Trầm Hương Thơ 10.05.2015
Tường thuật và ghi hình.

Read more…

Hồ Chí Minh có mấy vợ và bao nhiêu người tình lẻ ?

(Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.)

1. Tăng Tuyết Minh (vợ chính thức có hôn thú, đã có thai với Hồ, nhưng sau phải phá thai vì mất liên lạc với Hồ)

2. Nguyễn Thị Minh Khai (người đồng chí, người tình đã ăn nằm như vợ chồng với Hồ, nhưng Hồ bệnh chết năm - 1932, nên sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong sau Hội nghị 7 CSQT)

3. Nông Thị Ngát (gái Nùng có 1 con trai với Hồ, tên Nông Đức Mạnh)

4. Đỗ Thị Lạc (có một người con gái với HCM)

5. Nông Thị Xuân (gái trẻ sơn cước, có 1 con trai Nguyễn tất Trung sinh năm 1956 với Hồ)

6. Nông Thị Vàng (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)

7. Nguyệt (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)

8. Marie Bière (người tình lẻ Pháp)

9. Véra Vasiliéva (người tình lẻ trong đảng CS Nga)

10. Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, đòi Hồ phải làm công khai làm đám cưới, nhưng đảng không cho, sau đó hủy bỏ !

(Đây chỉ là mặt nổi của những người đàn bà qua tay cha già dzâm tặc Hồ Chí Minh, còn những cháu gái miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc cho bác "CẤY HẠT GIỐNG ĐỎ" để mang về Nam thì ko thể đếm hết ?!)

Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Nhưng bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Thực sự có phải như thế không?

1. TĂNG TUYẾT MINH, người vợ Trung Cộng :

Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu thủy từ Vladivostok (Liên Xô) đến Quảng Châu (Trung Hoa) với tư cách là thư ký kiêm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn Borodin (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoạ Trong thời gian sống ở Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa, làm nghề nữ hộ sinh, ngày 18-10-1926.

Sau đây là lá thư của Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928:

“Dữ muội tương biệt, Chuyển thuấn niên dư, Hoài niệm tình thâm, Bất ngôn tự hiểụ Từ nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị nã da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thụy. Tóm dịch: “Cùng em chia tay nhau, Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm, Nhớ nhung tình sâu, Không nói cũng tự biết. Nay nhân gởi tin hồng nhớn, Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng, Mong em yên tâm, Là điều anh trông ngóng. Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về Thụy”.
Theo tác giả Daniel Hémery, L Thụy không gặp lại được Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927.
Cộng Sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tới Quảng Châụ. Chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm) thì không thể là thư liên lạc bình thường.

2. NGUYỄN THỊ MINH KHAI, người đồng chí:

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tới Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình là nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930. Ở Hồng Kông, tới trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạỵ Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai ngườị

Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.
Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dung.

Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hồng Kông, đến đầu năm sau thì được thả rạ Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt và bị trục xuất ra khỏi Hồng Kông. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi Moscow.

Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (3)
Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.


Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng... (5) Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lới trong Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra đới hội nầy, ông Lin (tức Hồ chí Minh) hay ghé lới nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow. (6)Minh Khai học ở Viện Thợ thuyền Đông Phương tức trường Staline đến tháng 2-1937 thì về nước qua đường Pháp, đến Sài Gòn năm 1938. Năm 1940, Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941.

Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Nhưng trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. 


Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Hồ Chí Minh là kỷ niệm về Minh Khaị Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là "Vừa đi đường vừa kể chuyện". Cũng theo tác giả Thành Tín, biết đâu chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.

3. ĐỖ THỊ LẠC LÀ AI ??

Sau đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được Quốc tế Cộng Sản gởi về nước hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) bị thất sủng và bị giữ lại ở Liên Xô cho đến cuối năm 1938, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.
Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. (8) Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả một báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.(9) 
Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. (10) Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư đảng, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(11) Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn.

Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhaụ Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành đới hội tới Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba ủy viên giám sát.

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậỵ Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, và một số súng đớn, thuốc men và tiền bớc. Tiêu Văn đồng Ọ cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự dựới Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuần." Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. 

Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh. Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945.

Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa.


4. NÔNG THỊ XUÂN, Gái sơn cước
Sau khi hiệp định Genève được ký ngày 20-7-1954, đất nước chia hai, hòa bình tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển 1 phụ nữ thuộc "gia đình cách mạng" (16) tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. 

Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổị Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theọ Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nộị.

Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa Nông Thị Xuân và Hồ Chí Minh, chính bộ trưởng bộ Công an của chính phủ Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về. Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cướị.

Thế rồi bỗng nhiên "vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng, đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..."

Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư. 

Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tới Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc Bộ Chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3-11-1957.

Ở đây, có lẽ nên mở một dấu ngoặc để tìm hiểu vì sao Trần Quốc Hoàn, ủy viên bộ Chính trị, bộ trưởng bộ Nội vụ nắm giữ ngành công an là một bộ quan trọng trong chế độ cộng sản, quyền lực đầy đủ trong tay, dư điều kiện và phương tiện để hành lạc trác táng, lại hành xử lạ lùng như vậỷ Trước hết, tuy được coi là lãnh tụ số một của chế độ công sản Hà Nội lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh không được các lãnh tụ khác cũng như bộ hạ thực tâm kính trọng. 

Điều nầy được bộc lộ rõ nét trong những quan hệ riêng tư nội bộ mà dân chúng bên ngoài không được biết, ví dụ tuy bà Xuân đã từng là vợ của Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn vẫn xem thường và xài xễ cho bỏ ghét. Cũng có thể việc xài xễ nầy bắt nguồn từ quan niệm dùng người hết sức tàn bạo của cộng sản: đó là khi một người đã hết sử dụng được thì tuyệt đối không còn được chút lưu tình chút nào, và bị coi là một thứ công cụ vứt đị.

Hồ Chí Minh quyết định thanh toán bà Xuân, cho Trần Quốc Hoàn muốn làm gì thì làm; hoặc Trần Quốc Hoàn biết bà Xuân sắp bị thanh toán, coi bà như một thứ đồ dùng, xài kẻo phí của trờị Ngoài ra, hành vi của Trần Quốc Hoàn còn chứng tỏ một tâm lý kiêu hãnh và tự cao, lãnh tụ số một dùng được thì "ta" cũng dùng được, "ta" có thua gì lãnh tụ đâu?

SỐ PHẬN NGUYỄN TẤT TRUNG SAU KHI BÀ XUÂN CHẾT RA SAO ?

Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôị. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc. 


Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.
Ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière, lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Laị. 

Sau đây là lời Thành Tín viết về hai "mối tình con" nầy của ông Hồ: "...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó..." Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : "... Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliévạ Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lới rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..."

Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóạ Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng.

Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?) nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nộị. Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng Cộng Sản Việt Nam muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đới cuộc của đất nước.

Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột, và sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng chục triệu quyển sách để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” bút hiệu Trần Dân Tiên, và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” bút hiệu T. Lan.

Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ tự đề tên thật và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau: "Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình..." Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: "...

Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?..." (23) Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: "...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giớị.." 

(24) Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn những được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau để phát hành khắp các nước trên thế giới trong suốt cuộc chiến tranh từ 1960 đến 1975.

Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.

Trở lại chuyện vợ con của ông Hồ, ông ta cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, nhưng lúc trẻ tham vọng trở thành lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, và nhất là giấu kỹ tất ca? những quan hệ tình cảm cá nhân, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ chính trị độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta. Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản. 

Nhưng một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tàị. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ.

Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh thỏa mãn nhục dục, nhưng một khi các cô gái đòi chính thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng "bác" không lấy vợ để lợi cho uy tín chính trị hơn. Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa... 

Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ và các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, muốn làm gì thì làm, không sơ. sự phê bình của dân chúng. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam ngày nay.

Chính vi thế mà nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mới làm ra bài thơ ca tụng bác:


BÁC HỒ RỒI LẠI BÁC TÔN
HAI BÁC CỨ THICH ÔM HÔN NHI ĐỒNG
NƯỚC DA HAI BÁC MẦU HỒNG
NƯỚC DA CÁC CHÁU NHI ĐỒNG MẦU XANH
GIỮA HAI CÁI MẶT BÀNH BÀNH
CHIẾC KHĂN QUÀNG CỔ QUẤN QUANH CỔ CÒ


GS. Trần Gia Phụng
Read more…

Nguyễn Phú Trọng bị báo Đức xếp cùng với Kim Jong-un trong danh sách 5 tên kẻ thù nguy hiểm nhất của Internet


Von links: Nguyen Phu Trong, Gurbanguly Berdimuhamedow, Kim Jong-un, Isayas Afewerki und Bashar al-Assad (Foto: AFP, dpa Picture-Alliance, AP/dpa, AFP/KCNA via KNS)

CTV Danlambao - Nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế, khi blogger Điếu Cày được Tổng thống Hoa Kỳ đón tiếp tại toà Bạch Ốc thì tờ báo Đức BILD đã xếp Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng vào bảng phong thần 5 kẻ thù nguy hiểm nhất của internet - Welttag für freie Presse - Das sind die schlimmsten - Feinde der Freiheit.

Nguyễn Phú Trọng cũng là người... theo đuôi blogger Điếu Cày được gặp gỡ Obama, nhưng chưa biết sẽ gặp như thế nào. Chỉ biết rằng Điếu Cày đã ngồi bên cạnh Obama trong tư thế của một nhà tranh đấu cho tự do ngôn luận và Nguyễn Phú Trọng sẽ mang tư thế ngang hàng với Kim Jong-un về việc bịt mồm người dân để đến Washington.

5 tên lãnh đạo và là kẻ thù nguy hiểm nhất của internet mà BILD lập danh sách là:Nguyễn Phú Trọng của nước CHXHCN Việt Nam, Kim Jong-un của Bắc Hàn,Gurbanguly Berdimuhamedow của Turkmenistan, Isayas Afewerki của Eritrea và Bashar al-Assad của Syria.

Trong phần trình bày về Nguyễn Phú Trọng BILB đã mô tả tình trạng tại Việt Nam như sau: Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mặc dù tự do ngôn luận được xác nhận bởi Hiến pháp, nhưng bất kỳ sự chỉ trích chính phủ nào và các vấn đề về dân chủ, cải cách đều là điều cấm kỵ. Hiện nay hơn 30 blogger và hai nhà báo đã bị cầm tù và bị quy tội "lật đổ nhà nước".

Nguyen Phu Trong (Vietnam): In der sozialistischen Republik Vietnam gibt es laut Verfassung zwar Meinungsfreiheit, doch wird jede Kritik an der Regierung verfolgt, Themen wie Demokratie und Reformen sind tabu. Derzeit sind mehr als 30 Blogger und zwei Journalisten inhaftiert, ihnen werden Vorwürfe wie „Umsturz des Staates“ gemacht. 
Nguồn:

Welttag für freie Presse | Das sind die schlimmsten
Feinde der Freiheit 
BILD zeigt die Staatschefs, die das Recht auf freie Meinungsäußerung mit Füßen treten

Read more…